Những chính sách lao động tiền lương có hiệu lực từ 01/08/2016

Published August 30, 2016 by quandao04

Ngày 1/8 là mốc thời gian bắt đầu có hiệu lực của nhiều chính sách về lao động và tiền lương, tác động tới hàng triệu người lao động và hưu trí trong xã hội, như: Tăng lương hưu, tăng mức trợ cấp, điều chỉnh lương mới theo lương cơ sở 1.210.000 đồng…

tien-luong

  1. Chính thức tăng 8 % lương hưu, trợ cấp hàng tháng

Nghị định 55/2016/NĐ-CP của Chính phủ quyết định điều chỉnh tăng 8 % mức lương hưu, trợ cấp hàng tháng đối với các nhóm đối tượng có quyết định hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng từ ngày 1/1/2015 đến trước ngày 1/5/2016, gồm:

Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân tỉnh Nghệ An chuyển sang theo quyết định số 41/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hàng tháng; Cán bộ xã, phường, thị trấn.

Riêng các đối tượng đã được tăng 8 % theo Nghị định 09/2015/NĐ-CP của Chính phủ thì giữ nguyên mức hưởng…

  1. Nâng đồng loạt mức hỗ trợ lên 2.000.000 đồng/người

Với trường hợp người có mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp hàng tháng theo quy định thấp hơn 2 triệu đồng, Nghị định 55/2016/NĐ-CP quy định mức hưởng được điều chỉnh từ ngày 1/1/2016 đối với người đang hưởng trước ngày 1/1/2016 và tính từ tháng bắt đầu hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng đối với người bắt đầu hưởng trong giai đoạn từ ngày 1/1/2016 đến ngày 31/12/2016. Mức điều chỉnh cụ thể như sau:

Tăng thêm 250.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức lương hưu từ 1.750.000 đồng/người/tháng trở xuống; tăng lên bằng 2.000.000 đồng/người/tháng đối với những người hưởng lương hưu từ trên 1.750.000 đồng đến dưới 2.000.000 đồng/người/tháng.

Tăng thêm 150.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp hằng tháng từ 1.850.000 đồng/người/tháng trở xuống; tăng lên bằng 2 triệu đồng/người/tháng đối với những người có mức trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp hằng tháng từ trên 1.850.000 đồng/người/tháng đến dưới 2 triệu đồng/người/tháng…

  1. Quy định mới về hỗ trợ lao động đi làm việc ở nước ngoài

Thông tư liên tịch 09/2016/TTLT-BLĐTBXH-BTC giữa Bộ LĐ-TB&XH và Bộ Tài Chính quy định mức hỗ trợ chi phí đào tạo nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết; hỗ trợ chi phí làm thủ tục để đi làm việc ở nước ngoài; hỗ trợ giải quyết rủi ro trong thời gian làm việc ở nước ngoài; hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề.

Theo đó, đối tượng thụ hưởng là người dân tộc thiểu số; người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật; thân nhân của người có công với cách mạng; người thuộc hộ bị thu hồi đất nông nghiệp… có nhu cầu đi xuất khẩu lao động.

Về mức hỗ trợ đào tạo nghề theo chi phí thực tế, mức tối đa theo Điều 4 Quyết định 46/2015/QĐ-TTg (ngày 28/09/2015).

Đào tạo ngoại ngữ: Theo mức cụ thể từng khóa học và thời gian học thực tế, tối đa 3 triệu đồng/người/khóa học. Bồi dưỡng kiến thức cần thiết: tối đa 530.000 đồng/người/khóa học; tiền ăn trong thời gian đào tạo: 40.000 đồng/người/ngày;

Chi phí đi lại (1 lượt đi và về) từ nơi cư trú hợp pháp đến địa điểm đào tạo:ư trú cách nơi đào tạo 15km trở lên: 200.000 đồng/người/khóa học; cư trú tại vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn cách nơi đào tạo từ 10 km trở lên: 300.000 đồng/người/khóa học…

  1. Tính mức lương mới cho cán bộ, công chức trên “nền” lương cơ sở 1.210.000 đồng.

Thông tư 05/2016/TT-BNV do Bộ Nội vụ ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở đối với đối tượng hưởng lương, phụ cấp trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội.

Áp dụng mức lương, phụ cấp (kể cả hệ số chênh lệch bảo lưu, nếu có) và hoạt động phí của các được tính theo mức lương cơ sở 1.210.000 đồng/tháng từ ngày 1/5/2016.

Cán bộ, công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; Cán bộ, công chức, viên chức được Điều động, biệt phái đến làm việc tại các hội, tổ chức phi Chính phủ, dự án và cơ quan, tổ chức quốc tế đặt tại Việt Nam theo quyết định của cấp có thẩm quyền…

Thông tư 05/2016/TT-BNV có hiệu lực từ 1/8/2016, trong đó có quy định có tính hồi tố. Theo đó, các quy định của Thông tư đã nêu rõ việc các khoản trích và các chế độ được hưởng tính theo mức lương cơ sở được tính lại tương ứng từ ngày 1/5/2016.

  1. Quy định cơ chế tiền lương tại công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Nghị định 51/2016/NĐ-CP quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, gồm: Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn Điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ – công ty con; Công ty TNHH một thành viên độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Theo đó, nguyên tắc phân phối tiền lương như sau:

Căn cứ vào quỹ tiền lương thực hiện, công ty được trích lập quỹ dự phòng để bổ sung vào quỹ tiền lương của năm sau. Quỹ dự phòng của công ty không được vượt quá 17% quỹ tiền lương thực hiện. Đối với công ty sản xuất, kinh doanh có tính mùa vụ thì quỹ dự phòng không vượt quá 20% quỹ tiền lương thực hiện quy định của Nghị định.

Công ty xây dựng quy chế trả lương theo vị trí, chức danh công việc, bảo đảm trả lương thỏa đáng (không hạn chế mức tối đa) đối với người có tài năng, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật và đóng góp nhiều cho công ty.

Công ty phân phối tiền lương cho người lao động theo quy chế trả lương của công ty. Không được sử dụng quỹ tiền lương của người lao động để trả cho thành viên Hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty, kiểm soát viên, tổng giám đốc, giám đốc, phó tổng giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng.

  1. Xác định quỹ tiền lương thực hiện công ty TNHH MTV 100% vốn Nhà nước.

Nghị định 52/2016/NĐ-CP quy định tiền lương, thưởng đối với quản lý công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Theo đó, quỹ tiền lương, thù lao thực hiện được xác định như sau: Đối với quản lý chuyên trách, căn cứ vào số người quản lý và mức tiền lương bình quân kế hoạch gắn với mức độ thực hiện chỉ tiêu được nêu trong Nghị định. Nếu lợi nhuận vượt kế hoạch thì cứ 1% lợi nhuận, quản lý được tính thêm tối đa 1% tiền lương; không vượt quá 20% mức tiền lương bình quân kế hoạch.

Đối với quản lý không chuyên trách: Tính trên cơ sở số quản lý, thời gian làm việc và mức thù lao theo Nghị định.

  1. Tăng thêm nhóm công việc phải nghiêm ngặt an toàn vệ sinh, lao động

Thông tư 13/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐ-TB&XH ban hành danh mục 17 công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao động yêu cầu các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức và người lao động cần tuân thủ.

So với quy định cũ, Thông tư 13/2016/TT-BLĐTBXH có bổ sung thêm mới một số nhóm công việc mới như: Các công việc làm việc trên cao cách mặt bằng làm việc từ 2 mét trở lên; công việc làm việc có tiếp xúc bức xạ ion hóa; công việc có tiếp xúc điện từ trường tần số cao ở dải tần số từ 30 GHz tới 300 GHz; công việc chế tạo, sử dụng, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa các công trình, thiết bị, hóa chất, dung dịch dùng trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, khai thác dầu khí, các sản phẩm của dầu khí trên biển và trên đất liền…

  1. Cty vốn chi phối của Nhà nước: Lương của sếp không quá 36 triệu đồng.

Nghị định 53/2016/NĐ-CP quy định về lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước.

Theo đó, mức tiền lương bình quân kế hoạch đối với người quản lý công ty chuyên trách là người đại diện phần vốn nhà nước được xác định trên cơ sở mức tiền lương bình quân thực hiện năm trước liền kề gắn với việc bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp, bảo đảm tiền lương và thu nhập của người lao động, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm đối với người lao động và nhà nước theo quy định của pháp luật, các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh kế hoạch và bảo đảm tối đa không quá 36 triệu đồng/tháng đối với công ty có lợi nhuận kế hoạch dưới 50 tỷ đồng.

Nghị định 53/2016/NĐ-CP nêu rõ các căn cứ để gia tăng mức lương trên, trong trường hợp công ty có lợi nhuận kế hoạch từ 50 tỷ đồng trở lên thì áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm tiền lương so với mức lương cơ bản, cụ thể: Hệ số điều chỉnh tăng thêm tối đa bằng 0,5 đối với công ty có lợi nhuận từ 50 tỉ đồng đến dưới 100 tỉ đồng.

Hệ số điều chỉnh tăng thêm tối đa 1,0 đối với các công ty thuộc lĩnh vực ngân hàng, tài chính, viễn thông có lợi nhuận có lợi nhuận từ 100 tỉ đồng tới dưới 500 tỉ đồng, công ty thuộc lĩnh vực khai thác và chế biến dầu khí, khoáng sản, điện, thương mại dịch vụ có lợi nhuận từ 100 tỉ đồng đến 300 tỉ đồng. Công ty thuộc lĩnh vực còn lại có lợi nhuận từ 100 tỉ đồng tới dưới 200 tỉ đồng…

Hoàng Mạnh (tổng hợp) – Báo Thời Đại
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7

Kỹ thuật lựa chọn phần từ kiểm tra trong kiểm toán báo cáo tài chính

Published August 29, 2016 by quandao04

Khi thiết kế các thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định phương pháp thích hợp để lựa chọn các phần tử kiểm tra. Các phương pháp có thể được lựa chọn là: chọn toàn bộ (kiểm tra 100%), lựa chọn các phần tử cụ thể, lấy mẫu kiểm toán. Trong từng trường hợp cụ thể, kiểm toán viên có thể lựa chọn một trong ba phương pháp hoặc kết hợp cả ba phương pháp trên. Việc quyết định sử dụng phương pháp nào là dựa trên cơ sở đánh giá rủi ro kiểm toán và hiệu quả của cuộc kiểm toán. Kiểm toán viên cần tin tưởng vào sự hữu hiệu của phương pháp được sử dụng trong việc thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm thỏa mãn mục tiêu của thử nghiệm.

thanh-toan-tam-ung

Trong hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro kiểm toán và không thể đạt được sự đảm bảo về việc báo cáo tài chính hoàn toàn không có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn. Cuộc kiểm toán luôn có những hạn chế vốn có làm cho hầu hết các bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên dựa vào để đưa ra kết luận và hình thành ý kiến kiểm toán đều mang tính thuyết phục nhiều hơn là tính khẳng định chắc chắn. Hoạt động kiểm toán không phải là hoạt động thực hiện lại công việc của kế toán, mà bản chất là quá trình thực hiện các thủ tục kiểm toán để thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp và dựa vào các bằng chứng này để hình thành ý kiến về báo cáo tài chính. Khi thiết kế các thử nghiệm kiểm soát và kiểm tra chi tiết, kiểm toán viên phải xác định phương pháp hiệu quả, để lựa chọn các phần tử kiểm tra nhằm đạt được mục đích của thủ tục kiểm toán.

Để có thể chọn phần tử kiểm tra phục vụ cho việc thu thập bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên có thể lựa chọn sử dụng 3 phương pháp sau: Chọn tất cả các phần tử, lựa chọn các phần tử cụ thể và lấy mẫu kiểm toán. Trong 3 phương pháp trên, phương pháp nào cũng đều có ưu nhược điểm riêng, cụ thể:

Phương pháp thứ nhất, chọn tất cả các phần tử (kiểm tra 100%): Thường không áp dụng đối với thử nghiệm kiểm soát nhưng thường được áp dụng đối với kiểm tra chi tiết. Kiểm tra 100% có thể thích hợp khi:

(1) Tổng thể được cấu thành từ một số ít các phần tử có giá trị lớn (Kiểm toán viên thường quyết định kiểm tra toàn bộ phần tử trong tổng thể áp dụng với các giao dịch không thường xuyên, hoặc số dư các tài khoản được tạo từ số lượng ít các giao dịch phát sinh trong kỳ);

(2) Có rủi ro đáng kể mà các phương pháp khác không cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp;

(3) Tính chất lặp đi lặp lại của việc tính toán hoặc quy trình khác được thực hiện tự động, bởi một hệ thống thông tin giúp việc kiểm tra 100% sẽ tiết kiệm chi phí hơn. Như vậy, ở phương pháp này kiểm toán viên không gặp phải rủi ro lấy mẫu trong kiểm toán, tức là rủi ro mà kết luận của kiểm toán viên dựa trên việc kiểm tra mẫu có thể khác so với kết luận đưa ra, nếu kiểm tra toàn bộ tổng thể với cùng một thủ tục kiểm toán.

Đồng thời có thể thấy rằng, việc kiểm tra toàn bộ tổng thể các phần tử cấu thành một nhóm giao dịch hoặc số dư tài khoản (hoặc một nhóm trong tổng thể đó) là đưa ra được kết luận thích hợp nhất. Ngược lại, phương pháp này không áp dụng với thử nghiệm kiểm soát nhằm cung cấp cho kiểm toán viên các bằng chứng về tính hiệu quả trong thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ. Bên cạnh đó, việc áp dụng với toàn bộ nhóm giao dịch và số dư tài khoản cấu thành nên báo cáo tài chính, là không khả thi đối với kiểm toán viên.

Phương pháp thứ hai, lựa chọn các phần tử cụ thể: Các phần tử cụ thể được chọn có thể bao gồm:

(1) Các phần tử có giá trị lớn hoặc các phần tử đặc biệt (Kiểm toán viên có thể quyết định lựa chọn một số phần tử cụ thể trong một tổng thể do các phần tử này có giá trị lớn hoặc có một số tính chất khác như: các phần tử có nghi ngờ, bất thường, có nguy cơ rủi ro cao hoặc đã từng bị nhầm lẫn);

(2) Tất cả các phần tử có giá trị cao hơn một giá trị nhất định (Kiểm toán viên có thể quyết định kiểm tra tất cả các phần tử có giá trị được ghi nhận cao hơn một giá trị nhất định nhằm xác minh một phần lớn trong tổng giá trị của một nhóm giao dịch, hoặc số dư tài khoản);

(3) Hoặc là các phần tử để thu thập tài liệu, thông tin (Kiểm toán viên có thể kiểm tra các phần tử để thu thập tài liệu, thông tin về các vấn đề như bản chất của đơn vị hoặc bản chất của các giao dịch).

Ở phương pháp này, mặc dù việc lựa chọn các phần tử nhất định từ một nhóm giao dịch, hoặc số dư tài khoản để kiểm tra thường là một phương pháp hiệu quả, để thu thập bằng chứng kiểm toán nhưng đây không phải là phương pháp lấy mẫu kiểm toán; các sai phạm phát hiện có thể là sai phạm cá biệt, không đại diện cho tổng thể. Việc lựa chọn các phần tử cụ thể theo xét đoán của kiểm toán viên chịu ảnh hưởng của rủi ro ngoài lấy mẫu, tức là rủi ro khi kiểm toán viên đi đến một kết luận sai vì các nguyên nhân không liên quan đến cỡ mẫu, kết quả của các thủ tục kiểm toán được áp dụng cho các phần tử được lựa chọn theo cách này không thể được suy rộng cho toàn bộ tổng thể; do đó, việc lựa chọn các phần tử cụ thể, để kiểm tra không cung cấp bằng chứng kiểm toán về phần còn lại của tổng thể.

Phương pháp thứ ba, lấy mẫu kiểm toán: Theo đó, việc áp dụng các thủ tục kiểm toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một tổng thể kiểm toán sao, cho tất cả các đơn vị lấy mẫu đều có cơ hội được lựa chọn nhằm cung cấp cho kiểm toán viên cơ sở hợp lý để đưa ra kết luận về toàn bộ tổng thể, bao gồm:

(1) Lấy mẫu thống kê và

(2) lấy mẫu phi thống kê. Trong đó, lấy mẫu thống kê: Là phương pháp lấy mẫu có các đặc điểm sau:

(i) Các phần tử được lựa chọn ngẫu nhiên vào mẫu;

(ii) Sử dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu, bao gồm cả việc định lượng rủi ro lấy mẫu. Một phương pháp lấy mẫu không có đặc điểm (i) và (ii) nêu trên được coi là lấy mẫu phi thống kê.

Phương pháp này được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở hợp lý để kiểm toán viên đưa ra kết luận về tổng thể được lấy mẫu, dựa trên việc đánh giá kết quả lấy mẫu kiểm toán.

Cụ thể gồm: Đối với thử nghiệm kiểm soát, tỷ lệ sai lệch của mẫu cao hơn so với dự tính có thể làm tăng rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá, trừ khi kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng kiểm toán khác hỗ trợ cho đánh giá ban đầu

Đối với kiểm tra chi tiết, nếu mức sai sót trong một mẫu cao hơn so với dự tính, kiểm toán viên có thể kết luận rằng, một nhómgiao dịch hoặc số dư tài khoản có sai sót trọng yếu, nếu không có các bằng chứng kiểm toán khác chứng minh là không tồn tại sai sót trọng yếu nào.

Trong trường hợp kiểm tra chi tiết, tổng giá trị của sai sót dự tính cộng với sai sót cá biệt (nếu có), là ước tính phù hợp nhất của kiểm toán viên về sai sót của tổng thể. Nếu tổng giá trị của sai sót dự tính cộng với sai sót cá biệt (nếu có) vượt quá mức sai sót có thể bỏ qua, thì mẫu được chọn không cung cấp được cơ sở hợp lý cho các kết luận của kiểm toán viên về tổng thể đã được kiểm tra. Tổng giá trị của sai sót dự tính và sai sót cá biệt càng gần đến mức sai sót có thể bỏ qua, thì sai sót thực tế của tổng thể càng có nhiều khả năng vượt quá mức sai sót có thể bỏ qua.

Tương tự, nếu sai sót dự tính lớn hơn mức sai sót mà kiểm toán viên đã dự kiến khi xác định cỡ mẫu, kiểm toán viên có thể kết luận rằng, rủi ro lấy mẫu là không thể chấp nhận được do sai sót thực tế của tổng thể đã vượt quá sai sót có thể bỏ qua. Việc xem xét kết quả của các thủ tục kiểm toán khác giúp kiểm toán viên đánh giá rủi ro do sai sót thực tế của tổng thể vượt quá sai sót có thể bỏ qua và rủi ro này có thể giảm đi, nếu kiểm toán viên thu thập được thêm bằng chứng kiểm toán.

 

Phương pháp lấy mẫu kiểm toán đòi hỏi kiểm toán viên phải bỏ thời gian, chi phí và công sức trong việc thiết kế mẫu, cỡ mẫu và lựa chọn phần tử kiểm tra; thực hiện các thủ tục kiểm toán; điều tra bản chất và nguyên nhân của sai lệch hoặc sai sót phát hiện được; dự tính sai sót trong tổng thể; đánh giá kết quả lấy mẫu kiểm toán. Trong quá trình áp dụng các thủ tục kiểm toán để thu thập bằng chứng kiểm toán, việc áp dụngmột hoặc kết hợp nhiều phương pháp trên có thể phù hợp tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể như: đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro có sai sót trọng yếu liên quan đến cơ sở dẫn liệu đang được kiểm tra, tính khả thi của từng phương pháp và hiệu quả thu được của các phương pháp khác nhau…

ThS. TRẦN THÙY LINH – Đại học Công nghiệp Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

  1. Bộ Tài chính (2012), Chuẩnmực kiểm toán số 500, 530;
  2. TS. Nguyễn Viết Lợi, ThS. Đậu Ngọc Châu (2012), Giáo trình lý thuyết kiểm toán, NXB Tài chính, Hà Nội;
  3. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011), Luật Kiểm toán độc lập;
  4. ThS. Đậu Ngọc Châu , TS. Nguyễn Viết Lợi (2012), Giáo trình Kiểm toán Báo cáo tài chính, Công ty Cổ phần In Sao Việt, Hà Nội;

Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7

Hướng dẫn mới trong xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn

Published August 27, 2016 by quandao04

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 49/2016/NĐ-CP ngày 27/5/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2016. Để hướng dẫn Nghị định của Chính phủ nêu trên, Tổng cục Thuế đang khẩn trương xây dựng, hoàn thiện Thông tư của Bộ Tài chính và lấy ý kiến rộng rãi các địa phương, đơn vị trong cả nước trước khi chính thức ban hành. Trên cơ sở những nội dung quy định xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn tại Nghị định số 49/2016/NĐ-CP ngày 24/09/2013 và các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện, các ý kiến tham gia đóng góp từ doanh nghiệp (DN), người nộp thuế (NNT); Dự thảo Thông tư của Bộ Tài chính lần này sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn, công bằng hơn trong xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn. Theo đó, một số nội dung chính trong dự thảo Thông tư lần này như sau:

thanh-toan-tam-ung

  1. Về hành vi vi phạm quy định về đặt in hóa đơn.

Giảm khung phạt tiền từ 2 triệu đến 4 triệu đồng thành mức phạt từ 0,5 triệu đến 1,5 triệu đồng đối với hành vi đặt in hóa đơn mà không ký hợp đồng in bằng văn bản; Bổ sung thêm mức phạt tiền từ 2 triệu đến 4 triệu đồng đối với hành vi đặt in hóa đơn khi cơ quan thuế (CQT) đã có văn bản thông báo tổ chức, DN không đủ điều kiện đặt in hóa đơn.

Đối với hành vi nộp thông báo điều chỉnh thông tin tại thông báo phát hành hóa đơn; Mức phạt tiền từ 0.5 triệu đến 1.5 triệu đồng đối với hành vi nộp Bảng kê hóa đơn chưa sử dụng đến CQT chậm sau 10 ngày kể từ ngày bắt đầu sử dụng hóa đơn tại địa chỉ mới; Mức phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 4 triệu đồng nếu chậm sau 20 ngày.

Sửa đổi mức phạt tiền đối với hành vi làm mất, cháy, hỏng hóa đơn của người bán từ 4 triệu đến 8 triệu đồng và bổ sung quy định trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn do sự kiện bất ngờ, sự kiện bất khả kháng khác thì không bị xử phạt tiền. Trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn đã lập (liên giao cho khách hàng), người bán và người mua lập biên bản ghi nhận sự việc, người bán đã kê khai, nộp thuế, có hợp đồng, chứng từ chứng minh việc mua bán hàng hóa và có một tình tiết giảm nhẹ thì xử phạt ở mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có từ hai tình tiết giảm nhẹ thì xử phạt cảnh cáo.

Bổ sung quy định trường hợp tổ chức, cá nhân tự phát hiện sai sót và lập lại thông báo, báo cáo thay thế đúng quy định gửi CQT trước khi ban hành Quyết định thanh tra thuế, kiểm tra thuế tại trụ sở NNT thì không bị phạt tiền.

  1. Về nguyên tắc áp dụng xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn.

Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính về hóa đơn thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

  1. Về hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp.

Trong thời gian bị cưỡng chế bằng biến pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng, người bán lập hóa đơn giao người mua thì cả người bán và người mua đều bị xử phạt vi phạm hành chính về sử dụng hóa đơn bất hợp pháp.

  1. Về hành vi vi phạm về nộp thông báo, báo cáo gửi CQT.

Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp thông báo, báo cáo gửi CQT, trừ thông báo phát hành hoá đơn từ ngày thứ 1 đến hết ngày thứ 10 kể từ ngày hết thời hạn theo quy định; Phạt tiền từ 2 triệu đến 4 triệu đồng, trừ thông báo phát hành hóa đơn, chậm sau 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn theo quy định.

Dự thảo Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 49/2016/NĐ-CP ngày 27/5/2016 của Chính phủ trên đây nhằm khắc phục những bất cập trong việc xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn trong thời gian qua. Hy vọng rằng sau khi tổng hợp ý kiến tham gia trên phạm vi cả nước, cơ quan soạn thảo sẽ hoàn thiện để kịp thời đưa vào thực hiện từ đầu tháng 8 năm 2016 tới đây./.

Nguồn TCT
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7

Phạt nặng đối với trường hợp trốn đóng bảo hiểm thử việc và trả lương không đúng quy định.

Published August 26, 2016 by quandao04

Từ ngày 10/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được thực hiện theo Nghị Định 95/2013/NĐ-CP.

bao-hiem

Nghị định quy định rõ các hình thức xử phạt cụ thể như sau:

Vi phạm quy định về thử việc:

+ Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động yêu cầu thử việc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ.

+ Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

– Yêu cầu người lao động thử việc quá 01 lần;

– Thử việc quá thời gian quy định;

– Trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó.

Vi phạm quy định về tiền lương

Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn, trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện; trả lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm cho người lao động thấp hơn mức quy định ; khấu trừ tiền lương của người lao động trái quy định tại Điều 101 của Bộ luật lao động; trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định tại Điều 98 của Bộ luật lao động theo một trong các mức sau đây:

– Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

– Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

– Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

– Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

– Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Phạt tiền người sử dụng lao động trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định theo các mức sau đây:

– Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

– Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

– Từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người lao động trở lên.

Vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

Phạt tiền với mức từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

  1. a) Chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp;
  2. b) Đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp không đúng mức quy định;
  3. c) Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

Phạt tiền với mức từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7

Khoản trợ cấp mất việc cho người lao động có được tính vào chi phí được khấu trừ không

Published August 25, 2016 by quandao04

Những người lao động mất việc làm do doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, hoặc do lý do kinh tế thì người sử dụng lao động phải trả cho người lao động khoản trợ cấp mất việc làm. Vậy những trường hợp nào được hưởng khoản trợ cấp mất việc làm và mức hưởng khoản trợ cấp như thế nào? Khoản trợ cấp mất việc làm cho người lao động có được tính vào chi phí được trừ không?

thanh-toan-tam-ung

1.Các đối tượng được hưởng trợ cấp mất việc làm.

Theo Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 tại Điều 44, Điều 45 quy định các trường hợp phải trả trợ cấp mất việc làm như sau:

– Nếu doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động và người người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc.

– Nếu vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc và người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc.

– Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã mà người sử dụng lao động không sử dụng hết số lao động hiện có và người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc.

2.Mức hưởng trợ cấp mất việc làm.

Theo Bộ Luật Lao Động số 10/2012/QH13 tại Điều 49 quy định về trợ cấp mất việc làm như sau:

– Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

– Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

– Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Ví dụ 1: Người lao động làm việc tại doanh nghiệp được 14 tháng và doanh nghiệp chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Trợ cấp mất việc làm mà người lao động được hưởng là: 2 tháng tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Ví dụ 2: Người lao động làm việc tại doanh nghiệp được 5 năm trong đó thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 3 năm.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là: 5 – 3 = 2 năm.

Tiền trợ cấp mất việc làm mà người lao động được hưởng là 2 tháng tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

3.Khoản trợ cấp mất việc làm cho người lao động có được tính vào chi phí được trừ không?

Thông tư 96/2015/TT-BTC tại Điều 4, Khoản 2, Điểm 2.12 sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC quy định về các khoản chi không được tính vào chi phí được trừ như sau:

“2.12. Khoản chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động không theo đúng quy định hiện hành.”

Căn cứ theo quy định trên:

– Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ nếu doanh nghiệp chi trả trợ cấp mất việc làm theo đúng quy định về mức hưởng trợ cấp mất việc làm.

– Doanh nghiệp chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động không theo quy định về mức hưởng trợ cấp mất việc làm thì doanh nghiệp không được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi đó.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7

Quy định pháp luật mới về thuế giá trị gia tăng áp dụng từ 01/07/2016

Published August 24, 2016 by quandao04

Thực hiện chủ trương của Đảng về tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cũng như cải cách hành chính để tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh phát triển, trong thời gian qua, nhiều quy định pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung. Trong đó, nhiều quy định pháp luật mới về thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 106/2016/QH13 (sửa đổi, bổ sung Luật Thuế Giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật Quản lý thuế) được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 6/4/2016 và có hiệu lực thi hành từ 1/7/2016. Những thay đổi về thuế giá trị gia tăng không những tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh mà còn tạo cơ sở pháp lý quản lý chặt chẽ nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng.

thanh-toan-tam-ung

Tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và thực hiện các chính sách xã hội

Bổ sung đối tượng không chịu thuế nhằm giải quyết chính sách xã hội

Cấu trúc gia đình truyền thống của người Việt Nam là có nhiều thế hệ cùng chung sống, thông thường có tới 3 đến 4 thế hệ cùng chung sống được biết đến với tên gọi “Tam đại đồng đường, “Tứ đại đồng đường”. Với mô hình gia đình truyền thống này, ông bà thường được con cháu trực tiếp chăm sóc lúc tuổi già. Tuy nhiên, cùng với những thay đổi về điều kiện kinh tế – xã hội, mô hình gia đình hạt nhân với hai thế hệ chung sống và trong nhiều trường hợp mỗi thế hệ sinh sống độc lập đã hình thành và phát triển, đặc biệt ở khu vực thành thị. Điều này dẫn đến sự gia tăng nhu cầu về dịch vụ chăm sóc người cao tuổi. Đồng thời, cũng dẫn đến việc chăm sóc người khuyết tật tại gia đình gặp nhiều khó khăn. Do vậy, nhu cầu thuê dịch vụ chăm sóc người khuyết tật đã xuất hiện và ngày càng gia tăng. Trong khi đó, chăm sóc người cao tuổi và những đối tượng neo đơn, yếu thế trong xã hội là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta.

Trong những năm qua, Nhà nước đã đầu tư nhiều cho các Trung tâm bảo trợ xã hội nhưng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng tăng của dịch vụ này. Vì thế, việc khuyến khích xã hội hóa nhằm thu hút các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực chăm sóc người neo đơn, yếu thế trong xã hội là thực sự cần thiết để thực hiện chủ trương đúng đắn đó của Đảng và Nhà nước ta. Luật số 106/2016/QH13 bổ sung vào đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) dịch vụ chăm sóc người cao tuổi và người khuyết tật nhằm tạo tiền đề để người cao tuổi và người khuyết tật có cơ hội thụ hưởng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, dưỡng lão với mức giá hợp lý.

Bổ sung đối tượng hoàn thuế trước, kiểm tra sau nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh

Luật số 106/2016/QH13 đã bổ sung 2 đối tượng thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau, đó là: (i) Người nộp thuế (NNT) sản xuất hàng hóa xuất khẩu không vi phạm pháp luật thuế trong 2 năm liên tục; (ii) NNT không thuộc diện rủi ro cao theo quy định của Luật Quản lý thuế. Quy định này một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho NNT tuân thủ tốt pháp luật thuế được nhanh chóng giải quyết hoàn thuế và đơn giản hóa thủ tục giải quyết hoàn thuế, mặt khác, thúc đẩy NNT tuân thủ pháp luật thuế để được hưởng những thuận lợi về thủ tục thuế. Quy định này cũng quán triệt nguyên tắc quản lý rủi ro trong Luật Quản lý thuế, đảm bảo vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển, vừa quản lý thuế chặt chẽ, chống gian lận qua hoàn thuế GTGT.

Những nội dung được sửa đổi, bổ sung nhằm tạo cơ sở quản lý chặt chẽ nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng

Luật số 106/2016/QH13 đã sửa đổi một số nội dung quy định về đối tượng không chịu thuế, đối tượng áp dụng thuế suất 0% và hoàn thuế GTGT nhằm khắc phục những bất hợp lý của Luật Thuế GTGT hiện hành, đảm bảo quản lý chặt chẽ nguồn thu, chống gian lận thuế GTGT. Cụ thể như sau:

Một là, bổ sung vào Điều 5 “Đối tượng không chịu thuế” quy định: “Doanh nghiệp (DN), hợp tác xã mua nông sản chưa chế biến hoặc mới sơ chế thông thường bán cho DN, hợp tác xã thì không phải tính, nộp thuế GTGT nhưng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào”. Điểm sửa đổi này xuất phát từ thực tế là, trong thời gian vừa qua, lợi dụng quy định “Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại thì thuộc diện chịu thuế GTGT với thuế suất 5%”, nhiều DN đã mua nông sản của nông dân (không chịu thuế GTGT) sau đó mua hóa đơn có thuế 5% để hợp thức đầu vào, qua nhiều khâu thương mại trung gian trước khi bán cho cơ sở xuất khẩu để cơ sở này được hoàn thuế.

Để khắc phục tình trạng gian lận này, các hiệp hội, các DN xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đã kiến nghị quy định “Hàng hóa là nông, lâm, thủy sản ở khâu kinh doanh thương mại đưa vào diện không chịu thuế GTGT”. Do nội dung này thuộc thẩm quyền của Quốc hội nên để xử lý vướng mắc thực tế tại Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/ 2013, Chính phủ đã quy định: Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường được bán cho DN, hợp tác xã không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT đầu ra, cơ sở kinh doanh mua vào không phải trả thuế GTGT đầu vào cũng như không phải khấu trừ số thuế này. Do vậy, quy định mới này sẽ nâng cao tính pháp lý, minh bạch hóa quy định pháp luật và góp phần chống gian lận trong hoàn thuế GTGT.

Hai là, bổ sung thêm vào đối tượng không chịu thuế GTGT và không thuộc diện được áp dụng thuế suất 0% đối với “Sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên”. Điểm bổ sung này xuất phát từ việc phát sinh bất cập của Luật Thuế GTGT cũ qua thực tiễn quản lý thuế thời gian qua. Theo đó, Luật Thuế GTGT cũ đã quy định “Tài nguyên, khoáng sản chưa qua chế biến thành sản phẩm khác” thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT và không thuộc diện được áp dụng thuế suất 0% là nhằm hạn chế xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô.

Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế cho thấy, đối với sản phẩm hàng hóa có tổng trị giá tài nguyên khoáng sản cộng với chi phí năng lượng (gồm chi phí điện, xăng, dầu, than) chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thì cơ bản vẫn là sản phẩm thô, GTGT trong nước thấp nên chưa thực sự là sản phẩm được chế biến sâu trong nước. Việc không đưa vào diện không chịu thuế GTGT và không áp dụng thuế suất 0%, không cho hoàn thuế đối với trường hợp này là nhằm thực hiện chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô; khuyến khích chế biến sâu tạo GTGT lớn hơn ở trong nước.

Ba là, bãi bỏ hoàn thuế GTGT đối với trường hợp lũy kế thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết từ 12 tháng hoặc 4 quý trở lên; trường hợp có thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết thì chuyển khấu trừ kỳ tiếp theo. Điểm sửa đổi này xuất phát từ những lý do sau:

– Thực tiễn quản lý thuế GTGT thời gian qua cho thấy, phần lớn các trường hợp đề nghị hoàn thuế khi có lũy kế thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết từ 12 tháng hoặc 4 quý trở lên sau đó lại phát sinh số thuế phải nộp khá lớn. Đây chính là những trường hợp thuế GTGT đầu vào tạm thời chưa khấu trừ hết do sự lệch pha tạm thời giữa lượng hàng hóa, dịch vụ mua vào với lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra trong một khoảng thời gian nhất định dẫn đến lượng hàng hóa tồn kho nhiều. Điều này cho thấy, việc thực hiện quy định hoàn thuế GTGT khi có lũy kế số thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết từ 12 tháng hoặc 4 quý trở lên dẫn đến phát sinh thêm nhiều thủ tục phải giải quyết để hoàn thuế khi không thực sự cần thiết phải hoàn thuế vì có thể để bù trừ với số thuế GTGT đầu ra sẽ phát sinh ở những kỳ tính thuế tiếp theo.

– Thực tế cho thấy, có không ít DN thường xuyên đề nghị hoàn thuế trong khi không có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu. Ngoại trừ trường hợp sản xuất hàng hóa thuộc nhóm thuế suất thấp (5%) hoặc có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thì việc thường xuyên có thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết cho thấy nhiều dấu hiệu của gian lận trong hoàn thuế GTGT mà thủ đoạn chủ yếu là mua hóa đơn đầu vào để khấu trừ khống thuế GTGT.

– Thống kê về số tiền hoàn thuế GTGT những năm qua cũng cho thấy số tiền chi hoàn thuế GTGT tăng khá bất thường, thậm chí tăng nhanh hơn cả tốc độ tăng thu thuế GTGT. Cụ thể như sau:

Năm: Số tiền thuế giá trị gia tăng đã hoàn (tỷ đồng)

2011: 77.945

2012: 85.245

2013: 91.482

2014: 98.970

2015: 85.000

Nguồn: Báo cáo Tổng kết công tác thuế các năm từ 2011 đến 2015 của Tổng cục Thuế

Bảng số liệu trên cho thấy, ngoại trừ năm 2015, số tiền hoàn thuế GTGT đều tăng khá nhanh qua các năm, có nhiều năm số tiền hoàn thuế GTGT thực tế lớn hơn rất nhiều so với dự toán. Tuy nhiên, số chi hoàn thuế GTGT năm 2015 trên chưa kể khoảng trên 7.000 tỷ đồng đã ra quyết định hoàn thuế GTGT năm 2015 nhưng được thực hiện chi hoàn vào năm 2016.

 

– Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết “Qua nghiên cứu kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, để quản lý chặt chẽ nguồn thu và hạn chế gian lận trong hoàn thuế GTGT, các nước trên thế giới đã áp dụng nhiều phương thức khác nhau. Một trong những phương thức chủ yếu để ngăn ngừa gian lận trong hoàn thuế GTGT là chuyển số thuế GTGT chưa khấu trừ hết sang các kỳ tiếp theo mà không thực hiện hoàn thuế, trừ trường hợp xuất khẩu. Điển hình cho việc thực hiện phương thức này là các nước như: Thái lan, Bulgaria, Ba lan, Chi lê, Thổ nhĩ kỳ, Marocco, Panama”.

Những phân tích trên cho thấy, việc bãi bỏ quy định hoàn thuế GTGT đối với trường hợp lũy kế thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết từ 12 tháng hoặc 4 quý trở lên sẽ giúp giảm bớt các thủ tục về thuế và góp phần ngăn ngừa gian lận trong hoàn thuế GTGT.

Bốn là, sửa đổi quy định về hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư. Theo đó, trong những trường hợp sau đây, cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT mà chuyển khấu trừ sang kỳ tiếp theo: (i) Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ vốn điều lệ như đã đăng ký; (ii) Kinh doanh ngành nghề kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư hoặc không đảm bảo duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động; (iii) Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản cấp phép từ ngày 1/7/2016; (iv) Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư. Sự thay đổi này xuất phát từ những căn nguyên chủ yếu sau:

– Theo Khoản 5 và 6 Điều 17 Luật DN thì hai hành vi sau đây bị nghiêm cấm: (i) Kê khai khống vốn điều lệ, không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị và (ii) Kinh doanh các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động. Việc hoàn thuế đối với những trường hợp này là không hợp lý, không góp phần tích cực hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật về kinh doanh; khiến cho các hoạt động kinh doanh không minh bạch có cơ sở tồn tại; dễ dẫn đến không chặt chẽ, an toàn cho môi trường đầu tư, kinh doanh.

– Đối với dự án đầu tư khai thác tài nguyên khoáng sản, việc thực hiện không hoàn thuế mà không phân biệt tài nguyên, khoáng sản xuất khẩu đã qua chế biến hay chưa qua chế biến nhằm hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô, chưa qua chế biến; hạn chế việc thực hiện các thủ tục hoàn thuế GTGT rồi sau đó lại thu thuế khi dự án đầu tư đi vào sản xuất, kinh doanh. Qua đó, thực hiện đơn giản hóa chính sách thuế và các thủ tục quản lý thuế, giải quyết được các trường hợp vướng mắc và bất cập trong tổ chức thực hiện Luật Thuế GTGT. Để không ảnh hưởng đến phương án kinh doanh của các dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản đang thực hiện, quy định này chỉ áp dụng đối với các dự án đầu tư khai thác tài nguyên khoáng sản được cấp phép từ ngày 1/7/2016.

– Việc đưa các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng giá trị tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư vào diện không hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư cũng nhằm mục đích khuyến khích chế biến sâu tài nguyên trước khi xuất khẩu, tạo GTGT lớn hơn trong nước đối với tài nguyên, góp phần khuyến khích sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản của đất nước.

Những phân tích trên cho thấy, việc bổ sung 4 loại dự án đầu tư vào diện không hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư là để đảm bảo sự phù hợp của pháp luật với thực tiễn quản lý thuế và sự thống nhất giữa pháp luật thuế với quy định của Luật DN; đồng thời, góp phần chống gian lận thương mại, phòng chống thất thu cho ngân sách nhà nước.

 

Năm là, bổ sung 2 trường hợp sau đây không được hoàn thuế: (i) Hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu; (ii) Hàng hóa xuất khẩu không thực hiện xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo Luật Hải quan. Để thực hiện nguyên tắc đánh thuế theo điểm đến như thông lệ quốc tế thì cần áp dụng thuế suất 0% và hoàn thuế GTGT cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, qua đó chuyển quyền đánh thuế cho nước nơi hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng. Theo đó, Khoản 1 Điều 8 Luật Thuế GTGT cũ quy định mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện đã phát sinh nhiều vướng mắc. Cụ thể như sau:

– Nhiều trường hợp thuốc lá, rượu, bia (Đây là những mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt) nhập khẩu được mua bán lòng vòng trong nước sau đó xuất khẩu. Cơ sở xuất khẩu chỉ đề nghị hoàn thuế GTGT trong khi số thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt (có mức thuế cao hơn nhiều lần thuế GTGT) thì không đề nghị hoàn. Trong trường hợp này, khách hàng nước ngoài phải mua với giá có thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt cao hơn nhiều lần so với giá cả thông thường nếu mua trực tiếp từ nước xuất khẩu. Do vậy, việc hoàn thuế là bất hợp lý, vô hình trung đã khuyến khích buôn lậu từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc có tính chất gian lận để được hoàn thuế. Để khắc phục bất hợp lý này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2015/NĐ-CP quy định thuốc lá, bia, rượu nhập khẩu sau đó xuất khẩu không được áp dụng 0%. Việc bổ sung đối tượng “Hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu” vào nhóm không được áp dụng thuế suất 0% sẽ nâng cao tính pháp lý và đảm bảo sự minh bạch của pháp luật thuế. Hơn nữa, quy định như vậy cũng mở rộng đối tượng không được áp dụng thuế suất 0%, không chỉ đối với thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu để xuất khẩu mà còn áp dụng đối với những mặt hàng khác, qua đó, đảm bảo phòng ngừa gian lận trong hoàn thuế GTGT đối với những hàng hóa khác.

– Nhiều trường hợp xuất khẩu qua cửa khẩu phụ, đường mòn, lối mở (xuất khẩu tiểu ngạch) có dấu hiệu gian lận, lợi dụng chính sách để chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước. Tờ trình Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế của Chính phủ khẳng định “Thực tế các trường hợp xuất khẩu tiểu ngạch không có hợp đồng chính tắc, không thanh toán quốc tế qua ngân hàng theo các phương thức thanh toán có tính thông lệ quốc tế mà sử dụng thanh toán qua tài khoản vãng lai do tổ chức, cá nhân nước ngoài mở tại Việt Nam. Để được hoàn thuế, cơ sở xuất khẩu cần hợp thức hóa hợp đồng mua bán và chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Vì vậy, phát sinh trường hợp thông đồng, lợi dụng việc hợp thức hóa hồ sơ hoàn thuế để chiếm đoạt tiền của Nhà nước”. Qua phối hợp kiểm tra với cơ quan chức năng nước ngoài đã phát hiện nhiều trường hợp DN khách hàng nước ngoài không có chức năng kinh doanh thương mại, xuất nhập khẩu mà kinh doanh ngành nghề khác như tổ chức du lịch lữ hành, hoặc đã ngừng hoạt động, hoặc không tồn tại. Tuy vậy, khi đã kiểm tra phát hiện ra gian lận, có nhiều trường hợp không thể thu hồi tiền thuế cho Nhà nước vì sau khi nhận tiền hoàn thuế nhiều DN đã bỏ trốn không làm các thủ tục giải thể, đóng mã số thuế theo quy định của pháp luật. Như vậy, việc bổ sung quy định không áp dụng thuế suất 0% đối với trường hợp xuất khẩu không thực hiện xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo Luật Hải quan sẽ giúp ngăn ngừa có hiệu quả trường hợp gian lận hoàn thuế GTGT, chống thất thu ngân sách nhà nước.

Tóm lại, từ những khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong quá trình thực thi các luật thuế và tiếp tục hiện thực hóa chủ trương đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, giảm thời gian thực hiện các thủ tục thuế và giảm chi phí tuân thủ thuế, Quốc hội đã thông qua Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế. Những điểm mới sửa đổi, bổ sung về thuế GTGT không chỉ giải quyết những yêu cầu cấp thiết của thực tiễn quản lý và góp phần tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi mà còn đồng thời tạo cơ sở pháp lý để tăng cường quản lý nguồn thu, chống gian lận thuế và hạn chế thất thu thuế GTGT.

Tài liệu tham khảo:

  1. Chính phủ: Tờ trình Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế;
  2. Quốc hội: Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế;
  3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII: Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ I tháng 7/2016

PGS.,TS LÊ XUÂN TRƯỜNG, PHẠM THIÊN TÙNG
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7

Thời hạn và mức phạt chậm nộp mẫu 08/MST

Published August 23, 2016 by quandao04

Quy định về thời Hạn nộp mẫu 08/MST – Tờ khai điều chỉnh bổ sung thông tin đăng ký thuế theo Thông tư 156/2013/TT-BTC, mức phạt chậm nộp mẫu 08/MST theo Thông tư 166/2013/TT- BTC

thanh-toan-tam-ung

– Khi có sự thay đổi về thông tin đăng ký thuế như: Bổ sung thông tin tài khoản ngân hàng, thay đổi tên công ty, địa chỉ, ngành nghề kinh doanh … (Nói tóm lại là thay đổi thông tin đăng ký thuế của DN trên giấy phép ĐKKD )

-> Thì DN phải làm Mẫu 08/MST để nộp cho Cơ quan thuế.

  1. Thời Hạn nộp Mẫu 08 / MST:

Theo Điều 9, Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính:

“Điều 9. Thay đổi, bổ sung thông tin đăng ký thuế

Đối với người nộp thuế đã được cấp đăng ký thuế nhưng chưa thông báo thông tin về các tài khoản của người nộp thuế đã mở tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng với cơ quan thuế trước thời điểm Nghị định 83/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì phải thông báo bổ sung tại Tờ khai điều chỉnh, bổ sung thông tin đăng ký thuế theo mẫu số 08-MST ban hành kèm theo Thông tư này, thời hạn chậm nhất ngày 31 tháng 12 năm 2013.

Người nộp thuế trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi có thay đổi, bổ sung số tài khoản tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng thì phải thông báo cho cơ quan Thuế trực tiếp quản lý trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày phát sinh sự thay đổi tại Tờ khai điều chỉnh, bổ sung thông tin đăng ký thuế theo mẫu số 08-MST ban hành kèm theo Thông tư này (thay thế Tờ khai điều chỉnh đăng ký thuế mẫu số 08-MST ban hành kèm theo Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế).”

KẾT LUẬN:

– Nếu có sự thay đổi thông tin đăng ký thuế (như: Đăng ký thêm tài khoản ngân hàng, thay đổi địa điểm kinh doanh …. Thay đổi giấy phép kinh doanh): Thời Hạn nộp mẫu 08/MST là 10 ngày .

Chú ý : Hiện nay có 1 số chi cục thuế nội thành không yêu cầu DN Nộp mẫu 08/MST khi có sự thay đổi giấy phép DKKD (Vì sở kế hoạch đầu tư và cơ quan thuế đã liên thông với nhau).

  1. Mức phạt chậm Nộp Mẫu 08 / MST:

Theo điều 7 Thông tư số 166/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 của Bộ Tài chính:

“Điều 7. Xử phạt đối với hành vi chậm nộp hồ sơ đăng ký thuế, chậm thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế so với thời hạn quy định:

  1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp hồ sơ đăng ký thuế hoặc thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế cho cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày đến 10 ngày mà có tình tiết giảm nhẹ.
  2. Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 400.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 1.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ đăng ký thuế hoặc thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế cho cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày đến 30 ngày (trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này).
  3. Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 800.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
  4. a) Nộp hồ sơ đăng ký thuế hoặc thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế quá thời hạn quy định trên 30 ngày.
  5. b) Không thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế.
  6. c) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp.”

Thông thường ngoài thực tế, cơ quan thuế sẽ phạt mức trung bình.

VD: bạn chậm nộp 15 ngày, mức phạt sẽ là: 700.000
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội
Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 

Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.